Home » Tìm hiểu kinh thánh
DẪN VÀO KINH THÁNH 10
09:36 |
Bài 10: TIN MỪNG THEO THÁNH MÁCCÔ
56. H. Thánh kí của sách Tin Mừng thứ hai là ai?
T. Là Thánh Máccô, quê tại Giêrusalem, ban đầu là môn đệ của thánh Phaolô, sau theo thánh Phêrô làm thông ngôn.
57. H. Thánh Máccô viết Tin Mừng năm nào và có mục đích gì?
T. Thánh Máccô viết sách Tin Mừng tại Rôma sau cuộc tử đạo của thánh Phêrô, vào khoảng năm 65-70. Thánh Máccô viết cho cộng đoàn Do Thái sống ở nước ngoài nhằm truyền giảng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.
58. H. Bố cục sách Tin Mừng theo thánh Máccô như thế nào?
T. Tin Mừng theo thánh Máccô gồm 16 đoạn, 661 câu, có thể chia ra như sau:
(1) Nhập đề: Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu chịu phép rửa và chịu cám dỗ: 1, 1-13;
(2) Sứ vụ tại Galilê: 1, 14-9, 50;
(3) Sứ vụ tại Giêrusalem: 10, 1-13, 37
(4) Thương khó, chịu chết, sống lại và lên trời: 14, 1-16, 20.
59. H. Tin Mừng theo thánh Máccô có những đặc điểm nào?
T. Là Tin Mừng viết trước nhất, sách Tin Mừng theo thánh Máccô các những đặc điểm sau:
(1) Từ ngữ giản dị, bình dân nhưng truyện kể sống động và chân thành.
(2) Là bài Tin Mừng nguyên thủy và ngắn nhất.
(3) Chịu ảnh hưởng tư tưởng của thánh Phaolô.
56. H. Thánh kí của sách Tin Mừng thứ hai là ai?
T. Là Thánh Máccô, quê tại Giêrusalem, ban đầu là môn đệ của thánh Phaolô, sau theo thánh Phêrô làm thông ngôn.
57. H. Thánh Máccô viết Tin Mừng năm nào và có mục đích gì?
T. Thánh Máccô viết sách Tin Mừng tại Rôma sau cuộc tử đạo của thánh Phêrô, vào khoảng năm 65-70. Thánh Máccô viết cho cộng đoàn Do Thái sống ở nước ngoài nhằm truyền giảng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.
58. H. Bố cục sách Tin Mừng theo thánh Máccô như thế nào?
T. Tin Mừng theo thánh Máccô gồm 16 đoạn, 661 câu, có thể chia ra như sau:
(1) Nhập đề: Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu chịu phép rửa và chịu cám dỗ: 1, 1-13;
(2) Sứ vụ tại Galilê: 1, 14-9, 50;
(3) Sứ vụ tại Giêrusalem: 10, 1-13, 37
(4) Thương khó, chịu chết, sống lại và lên trời: 14, 1-16, 20.
59. H. Tin Mừng theo thánh Máccô có những đặc điểm nào?
T. Là Tin Mừng viết trước nhất, sách Tin Mừng theo thánh Máccô các những đặc điểm sau:
(1) Từ ngữ giản dị, bình dân nhưng truyện kể sống động và chân thành.
(2) Là bài Tin Mừng nguyên thủy và ngắn nhất.
(3) Chịu ảnh hưởng tư tưởng của thánh Phaolô.
TÒA GIÁM MỤC XUÂN LỘC
DẪN VÀO KINH THÁNH 9
08:37 |
Bài 9: TIN MỪNG THEO THÁNH MÁTTHÊU
52. H. Thánh kí của Tin Mừng thứ nhất là ai?
T. Là thánh Mátthêu cũng gọi là Lêvi, con của ông Anphê (x.
Mc 2, 14) làm nghề thu thuế ở Caphacnaum, đã được Chúa Giêsu kêu gọi làm Tông đồ
(x. Mt 9, 9).
53. H. Thánh Mátthêu viết sách Tin Mừng năm nào?
T. Thánh Mátthêu viết sách Tin Mừng vào khoảng năm 70-80 cho
người Do Thái sống tại Palestin để củng cố lòng tin của họ; ngài lấy Cựu Ước
minh chứng Chúa Giêsu Nazaret là Đấng Thiên Sai (Mêsia) mà Thiên Chúa đã hứa.
DẪN VÀO KINH THÁNH 8
15:36 |
Bài 8: SÁCH TIN MỪNG
47. H. Tin Mừng là gì?
T.Trước tiên, TIN MỪNG là tin vui mừng về ơn giải thoát mà Thiên Chúa ban cho loài người qua Chúa Giêsu Kitô. Sau đó, từ ngữ TIN MỪNG chỉ sự mở rộng TIN MỪNG, do các Tông đồ mang đến cho thế giới ngoại giáo. Và vào thế kỷ thứ hai, TIN MỪNG dùng để chỉ những sách ghi lại tin vui mừng ấy. Đó là 4 cuốn: Tin Mừng theo thánh Mátthêu, Máccô, Luca và Gioan.
47. H. Tin Mừng là gì?
T.Trước tiên, TIN MỪNG là tin vui mừng về ơn giải thoát mà Thiên Chúa ban cho loài người qua Chúa Giêsu Kitô. Sau đó, từ ngữ TIN MỪNG chỉ sự mở rộng TIN MỪNG, do các Tông đồ mang đến cho thế giới ngoại giáo. Và vào thế kỷ thứ hai, TIN MỪNG dùng để chỉ những sách ghi lại tin vui mừng ấy. Đó là 4 cuốn: Tin Mừng theo thánh Mátthêu, Máccô, Luca và Gioan.
DẪN VÀO KINH THÁNH 7
06:15 |DẪN VÀO THÁNH KINH 6
08:06 |29. H. Người Do Thái thời Chúa Giêsu thường họp nhau cầu nguyện ở đâu?
T. Thời Chúa Giêsu, người Do Thái thường hội họp nhau cầu nguyện tại Đền Thờ Giêrusalem và trong các Hội đường.
30. H. Thành Giêrusalem được xây dựng ở đâu?
T. Thành Giêrusalem được xây dựng trên một ngọn núi cao khoảng 800 mét – mà Cựu Ước thường gọi một cách thi vị là “núi Sion” giữa vùng sơn cước Giuđê – phía Tây và Nam giáp thung lũng Khép-rôn.
31. H. Thành Giêrusalem trở thành kinh đô của Israel khi nào?
T. Trước kia, Giêrusalem là thành của dân Canaan bản xứ. Vào khoảng năm 1000, vua Đavít mang quân chiếm lấy và biến thành kinh đô chính trị và tôn giáo của Israel. Giêrusalem từ đó được gọi là “Thành Thánh” và có sự hiện diện của Hòm Bia Giao Ước, và còn mang tên “Kinh Thành của vua Đavít”.
32. H. Ai đã xây Thành và Đền thờ Giêrusalem đầu tiên?
T. Vua Đavít đã xây thành và con của vua là Salômôn đã xây Đền thờ Giêrusalem.
33. H. Thành và Đền thờ đó bị phá hủy khi nào?
Năm 586 trước Công nguyên, Nabucôđônôso Vua Babylon đã chiếm, phá hủy Thành và Đền thờ đó.
34. H. Thành và Đền thờ Giêrusalem được xây dựng lại năm nào?
T. Năm 520 trước Công nguyên, Étra và Nơkhemia đã tái thiết lại nhưng đơn giản và nhỏ hơn trước. Khoảng năm 20 trước Công nguyên, Hêrôđê Đại Đế mở rộng Đền thờ và tới năm 64 sau Công nguyên mới hoàn thành. Thành và Đền thờ này lại bị Tướng Titô phá hủy vào năm 70 sau Công nguyên.
35. H. Thời Chúa Giêsu, Thành và Đền thờ Giêrusalem như thế nào?
T. Thời Chúa Giêsu, Thành Giêrusalem có tường bao vây chung quanh, chu vi khoảng 4500 thước, có chừng 100.000 dân cư ngụ. Đền thờ Giêrusalem ở phía Bắc Thành: phía Nam dài 283 thước, phía Bắc dài 317 thước, phía Đông dài 474 thước, phía Tây dài 490 thước với những cột đá cao lớn làm thành hành lang bao vây bốn mặt.
36. H. Đền thờ Giêrusalem có ý nghĩa gì đối với người Do Thái?
T. Đền thờ Giêrusalem là niềm kiêu hãnh của toàn dân Israel, là nơi Thiên Chúa ngự và là trung tâm đời sống tôn giáo của Dân Chúa. Định mệnh Israel được gắn liền với Đền thờ. Mọi người dân Israel từ 12 tuổi trở lên, dù ở phương trời nào, cũng phải hành hương Đền thờ mỗi năm 3 lần vào các dịp Lễ Vượt Qua, Lễ Ngũ Tuần, Lễ Lều Trại.
37. H. Hội đường là nơi nào?
T. Hội đường là tòa nhà chung, nơi cộng đoàn Do Thái địa phương tụ họp vào mỗi ngày thứ Bảy (ngày Sabát) để đọc kinh, đọc và giải thích Sách Thánh và dạy giáo lí. Hội đường thường có ông Trưởng Hội đường quản trị và có phụ tá giúp việc. Hội đường thường được xây cất theo hình chữ nhật, mặt trước hướng về Giêrusalem, bên trong có đặt một cuốn SáchThánh.
“Hằng năm, cha mẹ Đức Giêsu lên Giêrusalem vào dịp Lễ Vượt Qua. Khi Người lên 12 tuổi, cả nhà cùng lên Giêrusalem mừng lễ theo thói quen” (Lc 2, 41).
TÒA GIÁM MỤC XUÂN LỘC
DẪN VÀO KINH THÁNH 5
08:04 |25. H. Tân Ước là những sách nào?
T. Tân Ước là những Sách Thánh được ghi chép từ sau khi Chúa Giêsu về trời cho đến năm thánh Gioan Tông đồ qua đời (khoảng năm 100).
26. H. Tại sao lại gọi là Tân Ước?
T. Gọi là Tân Ước vì đây là những Sách Thánh nói đến GIAO ƯỚC MỚI, được kí kết giữa Thiên Chúa và toàn thể loài người do Chúa Kitô làm TRUNG GIAN. Giao Ước này được thiết lập bằng chính Máu Chúa Giêsu.
27. H. Sách Tân Ước chia làm mấy loại?
T. Tân Ước gồm 27 cuốn chia làm 3 loại:
(1) Lịch sử: 5 cuốn: 4 Tin Mừng và sách Công vụ Tông đồ;
(2) Giáo huấn: 21 cuốn: các thư của thánh Phaolô và 7 thư chung;
(3) Ngôn sứ: 1 cuốn là sách Khải Huyền.
28. H. Tân Ước dạy ta những điều gì?
T. Tân Ước dạy ta biết về Chúa Giêsu và công trình cứu chuộc của Người. Thật vậy:
- Các sách Tin Mừng thuật lại những lời giáo huấn của Chúa Giêsu về mầu nhiệm Nước Trời, trình bày con người và sứ mệnh cứu độ của Người, và kết thúc bằng cuộc Tử nạn và Phục sinh vinh quang;
- Sách Công vụ Tông đồ ghi lại bước đầu của Hội Thánh nơi người Do Thái và Dân Ngoại;
- Các thư giải thích và đào sâu giáo huấn của Chúa Giêsu;
- Và sách Khải Huyền, dùng những hình ảnh kì diệu mô tả cuộc chiến đấu và toàn thắng của Nước Thiên Chúa.
TÒA GIÁM MỤC XUÂN LỘC
DẪN VÀO KINH THÁNH 4
08:02 |18. H. Trong đạo Do Thái, có những ngày lễ lớn nào?
T. Có 3 lễ này:
- Lễ Vượt Qua;
- Lễ Ngũ Tuần;
- Lễ Lều Trại.
19. H. Lễ Vượt Qua là lễ gì?
T. Đó là ngày Đại Lễ mà người Do Thái cử hành vào mùa Xuân để kỉ niệm việc Xuất Hành ra khỏi đất Ai Cập. Lễ được bắt đầu cùng với những ngày “ăn bánh không men”, và bữa tiệc gia đình, trong đó người ta ăn chiên Vượt Qua (x. Xh 12, 1-14).
20. H. Nguồn gốc Lễ Vượt Qua như thế nào?
T. Có lẽ từ lúc đầu có 2 lễ khác nhau:
- Lễ Vượt Qua là Lễ Hội Mùa Xuân của các dân du mục. Họ có thói quen thiêu tế một con chiên để cầu xin được phú túc. Máu chiên bôi trên ngạch cửa để trừ tà. Môsê đã lấy lại và đã biến thành lễ đặc biệt của dân Israel.
- Lễ “ăn bánh không men” là lễ hội Nhà Nông của dân Canaan bản xứ. Trong suốt 7 ngày, người ta ăn bánh làm bằng bột lúa mới gặt không có trộn men.
Vào cuối thời quân chủ, người ta sát nhập hai lễ thành một để kỉ niệm biến cố Xuất Hành ra khỏi Ai Cập của dân Do Thái.
21. H. Tại sao gọi là lễ Vượt Qua?
T. Đó là kỉ niệm biến cố Thiên Chúa giải thoát dân Israel ra khỏi cảnh nô lệ của người Ai Cập. Biến cố này ghi lại những việc trọng đại đáng kể:
- Thần sứ Giavê “vượt qua” nhà dân Israel có máu chiên bôi trên thành cửa, không vào giết các con đầu lòng;
- Dân Israel đã “vượt qua” Biển Đỏ bình an khi quân Ai Cập đuổi theo;
- Dân Israel đã “vượt qua” sa mạc trong 40 năm với bao nỗi cam go, thử thách trước khi vào Đất Hứa.
22. H. Lễ Vượt Qua được mừng vào ngày nào?
T. Theo lịch Do Thái, lễ Vượt Qua bắt đầu từ chiều ngày 14 tháng Nisan và kéo dài 7 ngày. So với dương lịch, lễ này xê dịch từ ngày 26 tháng 3 đến 24 tháng 4 hằng năm (x. Xh 45, 21).
23. H. Lễ Ngũ Tuần (Năm Mươi) là lễ nào?
T. Đó là Đại Lễ được cử hành 50 ngày sau khi dâng bó lúa đầu tiên, tức là 7 tuần lễ sau “Lễ bánh không men”. Trong dịp lễ này, người ta dâng trong đền thờ bánh làm bằng bột lúa mới gặt và nhiều lễ vật khác. Lúc đầu, lễ này chỉ là một LỄ HỘI NHÀ NÔNG. Về sau, được cử hành với mục đích ghi nhớ việc Thiên Chúa ban lề luật cho Dân Ngài tại núi Sinai.
24. H. Lễ Lều Trại là lễ gì?
T. Lễ Lều Trại còn gọi là LỄ THU HOẠCH, được cử hành vào tháng 9, để Tạ ơn Thiên Chúa đã phù hộ dân trong sa mạc cũng như ban cho họ được thu hoạch hoa trái hằng năm. Cuộc lễ được mừng trong ngày. Trong suốt những ngày này, dân Israel trẩy hội ở trong những chiếc lều hay căn nhà làm bằng cành lá cây. Đây là Đại lễ mang tính bình dân và vui tươi nhất trong năm.
TÒA GIÁM MỤC XUÂN LỘC
DẪN VÀO KINH THÁNH 3
07:43 |
Bài 3: KINH THÁNH CỰU ƯỚC
14. H. Cựu Ước là những sách nào?
T. Cựu Ước là những Sách Thánh được viết từ khoảng năm 1000 đến năm 100 trước Công nguyên, ghi lại GIAO ƯỚC giữa Thiên Chúa và dân Israel, chuẩn bị họ đón nhận Đấng Cứu Thế.
15. H. Sách Cựu Ước gồm bao nhiêu cuốn và được chia làm mấy loại?
T. Sách Cựu Ước gồm 46 cuốn và chia làm 4 loại:
1. Ngũ kinh: 5 cuốn đầu tiên trong bộ Kinh Thánh;
2. Lịch sử: 16 cuốn;
3. Giáo huấn: 7 cuốn;
4. Ngôn sứ: 18 cuốn.
16. H. Sách Cựu Ước dạy ta những chân lí căn bản nào?
T. Sách Cựu Ước dạy ta những chân lí căn bản này:
- Chỉ có MỘT THIÊN CHÚA là Đấng độc nhất ta phải tôn thờ;
- Thiên Chúa hằng yêu thương và trung thành với lời giao ước;
- Dù loài người (Israel) phản bội, Thiên Chúa vẫn hằng yêu thương, sẵn sàng thực hiện lời hứa ban ơn cứu độ;
- Khi dân trung thành, Thiên Chúa phù trợ, che chở; khi dân bất trung, Thiên Chúa cảnh tỉnh bằng những tai ương.
17. H. Cựu Ước có liên quan gì với Tân Ước?
T. Hiến chế Mặc Khải viết: “Thiên Chúa đã khôn ngoan sắp xếp cho Tân Ước được tiềm ẩn trong Cựu Ước và Cựu Ước trở nên sáng tỏ trong Tân Ước… Các sách Cựu Ước đạt được và bày tỏ đầy đủ trong Tân Ước. Ngược lại, Tân Ước cũng được sáng tỏ và giải thích nhờ Cựu Ước” (Hc. MK, số 16).
14. H. Cựu Ước là những sách nào?
T. Cựu Ước là những Sách Thánh được viết từ khoảng năm 1000 đến năm 100 trước Công nguyên, ghi lại GIAO ƯỚC giữa Thiên Chúa và dân Israel, chuẩn bị họ đón nhận Đấng Cứu Thế.
15. H. Sách Cựu Ước gồm bao nhiêu cuốn và được chia làm mấy loại?
T. Sách Cựu Ước gồm 46 cuốn và chia làm 4 loại:
1. Ngũ kinh: 5 cuốn đầu tiên trong bộ Kinh Thánh;
2. Lịch sử: 16 cuốn;
3. Giáo huấn: 7 cuốn;
4. Ngôn sứ: 18 cuốn.
16. H. Sách Cựu Ước dạy ta những chân lí căn bản nào?
T. Sách Cựu Ước dạy ta những chân lí căn bản này:
- Chỉ có MỘT THIÊN CHÚA là Đấng độc nhất ta phải tôn thờ;
- Thiên Chúa hằng yêu thương và trung thành với lời giao ước;
- Dù loài người (Israel) phản bội, Thiên Chúa vẫn hằng yêu thương, sẵn sàng thực hiện lời hứa ban ơn cứu độ;
- Khi dân trung thành, Thiên Chúa phù trợ, che chở; khi dân bất trung, Thiên Chúa cảnh tỉnh bằng những tai ương.
17. H. Cựu Ước có liên quan gì với Tân Ước?
T. Hiến chế Mặc Khải viết: “Thiên Chúa đã khôn ngoan sắp xếp cho Tân Ước được tiềm ẩn trong Cựu Ước và Cựu Ước trở nên sáng tỏ trong Tân Ước… Các sách Cựu Ước đạt được và bày tỏ đầy đủ trong Tân Ước. Ngược lại, Tân Ước cũng được sáng tỏ và giải thích nhờ Cựu Ước” (Hc. MK, số 16).
TÒA GIÁM MỤC XUÂN LỘC
DẪN VÀO KINH THÁNH 2
09:25 |
Bài 2: GIAO ƯỚC
6. H. Giao ước là gì?
T. Giao ước là lời cam kết giữa hai bên về những gì mà họ phải làm cho nhau: Cam kết này có thể thực hiện giữa:
- Hai bên bình đẳng (như giữa vợ chồng trong hôn nhân).
- Hoặc, hai bên không bình đẳng (như giữa phe thắng và phe thua trận, hay giữa Thiên Chúa và loài người…).
7. H. Giao ước trong Kinh Thánh có những ý nghĩa gì?
T. Giao ước trong Kinh Thánh chỉ mối tương giao hay liên kết mà Thiên Chúa thiết lập:
- Hoặc với toàn thể loài người trong bản thân ông NÔÊ (St 9, 9-17);
- Hoặc với một người, như ông Abraham (St 15, 18) hoặc vua Đavít (Tv 89, 4-5);
- Hoặc với một dân tộc Israel (Xh 19, 5-6), giao ước ấy luôn luôn có kèm theo một lời hứa và thường được kí kết bằng một hi lễ (St 15, 7-19; Xh 24, 3-8).
8. H. Giao ước giữa Thiên Chúa và loài người có nội dung như thế nào?
T. Nội dung chính yếu của Giao ước này là:
a. Về phía Thiên Chúa: Ngài cam kết thương yêu và cứu chuộc loài người;
b. Về phía loài người (Israel là đại diện): công nhận Đức Giavê là Thiên Chúa độc nhất, phải tôn thờ và sống theo Luật người ban hành.
9. H. Việc thực hiện giao ước đó như thế nào?
T. Về phía Thiên Chúa, Ngài luôn trung thành; còn về phía loài người, họ đã nhiều lần vi phạm, bất trung. Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến nhắc nhở, cảnh tỉnh và răn đe để kêu gọi họ (Israel) sám hối. Khi họ ngoan cố, Thiên Chúa trừng phạt để cảnh tỉnh họ trở về cùng Ngài.
10. H. Giao ước đó có được lặp lại và hoàn chỉnh không?
T. Có. Qua dòng lịch sử cứu độ, Giao ước đó được lặp lại và hoàn chỉnh nhiều lần qua các trung gian:
a. Nôê (x. St 9, 11)
b. Abraham (x. St 15, 14)
c. Môsê (x. Xh 19, 24)
d. Đavít (x. 2 Sm 7-14)
e. Hoàn tất nơi Đức Giêsu Kitô (Giao Ước mới)
11. H. Khi nói về Giao ước cũ (Cựu Ước), người ta thường hiểu về Giao ước nào?
T. Đó là Giao ước mà Thiên Chúa đã kí kết với dân Israel tại Núi Sinai do ông Môsê làm trung gian vào khoảng thế kỉ 13 TCN.
12. H. Giao ước mới là Giao ước nào?
T. Đó là Giao ước mà Thiên Chúa nhờ các ngôn sứ loan báo sẽ thiết lập vào thời cuối cùng (x. Gr 31, 31-34) và được hoàn thành qua cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá. Giao ước ấy liên hệ đến toàn thể loài người. (x. Mt 26, 28).
13. H. Sống trong Giao ước mới, chúng ta phải làm gì?
T. Được hưởng ơn cứu độ do giá máu của Chúa Giêsu Kitô, chúng ta phải biết đón nhận tình thương của Thiên Chúa, luôn trung thành với Người bằng cách sống theo Lời Người dạy.
6. H. Giao ước là gì?
T. Giao ước là lời cam kết giữa hai bên về những gì mà họ phải làm cho nhau: Cam kết này có thể thực hiện giữa:
- Hai bên bình đẳng (như giữa vợ chồng trong hôn nhân).
- Hoặc, hai bên không bình đẳng (như giữa phe thắng và phe thua trận, hay giữa Thiên Chúa và loài người…).
7. H. Giao ước trong Kinh Thánh có những ý nghĩa gì?
T. Giao ước trong Kinh Thánh chỉ mối tương giao hay liên kết mà Thiên Chúa thiết lập:
- Hoặc với toàn thể loài người trong bản thân ông NÔÊ (St 9, 9-17);
- Hoặc với một người, như ông Abraham (St 15, 18) hoặc vua Đavít (Tv 89, 4-5);
- Hoặc với một dân tộc Israel (Xh 19, 5-6), giao ước ấy luôn luôn có kèm theo một lời hứa và thường được kí kết bằng một hi lễ (St 15, 7-19; Xh 24, 3-8).
8. H. Giao ước giữa Thiên Chúa và loài người có nội dung như thế nào?
T. Nội dung chính yếu của Giao ước này là:
a. Về phía Thiên Chúa: Ngài cam kết thương yêu và cứu chuộc loài người;
b. Về phía loài người (Israel là đại diện): công nhận Đức Giavê là Thiên Chúa độc nhất, phải tôn thờ và sống theo Luật người ban hành.
9. H. Việc thực hiện giao ước đó như thế nào?
T. Về phía Thiên Chúa, Ngài luôn trung thành; còn về phía loài người, họ đã nhiều lần vi phạm, bất trung. Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến nhắc nhở, cảnh tỉnh và răn đe để kêu gọi họ (Israel) sám hối. Khi họ ngoan cố, Thiên Chúa trừng phạt để cảnh tỉnh họ trở về cùng Ngài.
10. H. Giao ước đó có được lặp lại và hoàn chỉnh không?
T. Có. Qua dòng lịch sử cứu độ, Giao ước đó được lặp lại và hoàn chỉnh nhiều lần qua các trung gian:
a. Nôê (x. St 9, 11)
b. Abraham (x. St 15, 14)
c. Môsê (x. Xh 19, 24)
d. Đavít (x. 2 Sm 7-14)
e. Hoàn tất nơi Đức Giêsu Kitô (Giao Ước mới)
11. H. Khi nói về Giao ước cũ (Cựu Ước), người ta thường hiểu về Giao ước nào?
T. Đó là Giao ước mà Thiên Chúa đã kí kết với dân Israel tại Núi Sinai do ông Môsê làm trung gian vào khoảng thế kỉ 13 TCN.
12. H. Giao ước mới là Giao ước nào?
T. Đó là Giao ước mà Thiên Chúa nhờ các ngôn sứ loan báo sẽ thiết lập vào thời cuối cùng (x. Gr 31, 31-34) và được hoàn thành qua cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá. Giao ước ấy liên hệ đến toàn thể loài người. (x. Mt 26, 28).
13. H. Sống trong Giao ước mới, chúng ta phải làm gì?
T. Được hưởng ơn cứu độ do giá máu của Chúa Giêsu Kitô, chúng ta phải biết đón nhận tình thương của Thiên Chúa, luôn trung thành với Người bằng cách sống theo Lời Người dạy.
TÒA GIÁM MỤC XUÂN LỘC
DẪN VÀO KINH THÁNH 1
09:22 |
Bài 1: KINH THÁNH
1. H. Kinh Thánh là gì?
T. Kinh Thánh là những LỜI của Thiên Chúa nói với loài người, được ghi chép lại dưới ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần (linh hứng) và được Hội Thánh công nhận, như thư gửi tín hữu Do Thái viết: “Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng miệng các Ngôn sứ mà phán dạy cha ông ta; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy ta qua Thánh Tử” (Dt 1, 1- 2).
1. H. Kinh Thánh là gì?
T. Kinh Thánh là những LỜI của Thiên Chúa nói với loài người, được ghi chép lại dưới ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần (linh hứng) và được Hội Thánh công nhận, như thư gửi tín hữu Do Thái viết: “Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng miệng các Ngôn sứ mà phán dạy cha ông ta; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy ta qua Thánh Tử” (Dt 1, 1- 2).










